Hệ thống chính trị Hệ thống chính trị

Tin tức sự kiện Tin tức sự kiện

Chuyên mục Chuyên mục

Thống kê truy cập

Trực tuyến : 2373

Đã truy cập : 42988274

Cơ sở hạ tầng

08/10/2016 19:36 Số lượt xem: 2102

Dân cư – lao động:

       Theo số liệu thống kê mới nhất Năm 2015, dân số Yên Phong là: 162.592 người, chiếm 14,08% dân số toàn tỉnh, (trong đó nam: 76.786 người và nữ: 85.806 người).

        Theo địa giới hành chính hiện nay, Yên Phong có 14 đơn vị hành chính bao gồm 01 Thị trấn Chờ và 13 xã là: Hòa tiến, Yên Phụ, Văn Môn, Tam Giang, Đông Tiến, Đông Thọ, Trung Nghĩa, Long Châu, Yên Trung, Đông Phong, Thụy Hòa, Dũng Liệt, Tam Đa với 74 thôn làng, khu phố.

         Thu nhập bình quân đạt 42,54 triệu đồng/người/năm (giá hiện hành); tăng  5,74 triệu đồng (15,6 %) so với năm 2014.

         Số hộ nghèo là 1.206 hộ (tỷ lệ 3,5 %); số hộ cận nghèo là 1.009 hộ (tỷ lệ 3,0 %) theo tiêu chí mới giai đoạn 2016-2020. 

Giao thông:

         Yên Phong có vị trí địa lý thuận lợi cho phát triển kinh tế, có đướng QL 18 nối sân bay Quốc tế Nội Bài (cách trung tâm huyện hơn 20km về phía tây) với cảng nước sâu Cái Lân (Quảng Ninh), đoạn đường đi qua Yên Phong từ Tây bắc xuống Đông nam dài 14 km, đường QL3 nối Hà nội với Thái Nguyên đoạn qua huyện Yên Phong đã được triển khai xây dựng năm 2009 chiều dài 6,77km. Đường tỉnh lộ 295 và ĐT277 đi từ phía bắc qua trung tâm huyện có nút giaovới QL18 xuống phía nam, nối vào QL1A đã được cải tạo nâng cấp, đường ĐT286 từ Bắc Ninh sang Hà Nội có nút giao cắt với QL3. Cùng với sự hình thành tuyến đường cao tốc Nội Bài - Quảng Ninh, Hà Nội - Thái Nguyên và dự án xây dựng cầu Đông Xuyên đi Bắc Giang và các dự án phát triển khu cụm công nghiệp và làng nghề cũng như Trung tâm các xã trong huyện, việc quy hoạch xây dựng với nhiều điều kiện phát triển rất rõ nét và thuận lợi. Trong tương lai gần, Yên Phong sẽ rất thuận lợi cho giao thông đi lại, đây là  điều kiện tốt thu hút các nhà đầu tư. Đây là điều kiện để các cấp uỷ Đảng, Chính quyền và nhân dân Yên Phong tận dụng lợi thế, đón nhận cơ hội để phát triển kinh tế - xã hội địa phương nhanh và bền vững.

Bưu chính - viễn thông:

        Theo số liệu tính đến năm 2015, dịch vụ bưu chính chuyển phát ở Yên Phong có hạ tầng mạng lưới ổn định, rộng khắp với tổng số bưu cục, điểm phục vụ là 16 điểm, trong đó có 02 bưu cục và 14 điểm bưu điện văn hóa xã. Bán kính phục vụ bình quân là 3km/điểm phục vụ, tần suất thu gom và phát bưu phẩm tối thiểu là 01 lần/ngày. 100% số xã có báo Nhân dân, báo Đảng bộ Bắc Ninh đến trong ngày. An toàn, an ninh thông tin được duy trì và bảo đảm, đáp ứng tốt nhu cầu của các tổ chức và nhân dân.

       Mạng lưới viễn thông ngày càng được đổi mới và nâng cấp, mạng thông tin di động - internet tuy mới xuất hiện nhưng phát triển rất nhanh, toàn huyện đã có 28 trạm BTS, tỷ lệ dân số dùng internet và các dịch vụ 3G đạt 30% . Hoạt động của các mạng công nghệ thông tin đã góp phần đáng kể trong công tác chỉ đạo, điều hành cải cách hành chính của các cơ quan Đảng và Nhà nước trên địa bàn huyện.

Giáo dục – Đào tạo:

      Năm 2018, Số phòng học kiên cố là 997/1067 phòng đạt tỷ lệ 93,4 %; toàn huyện có 47/49 trường đạt chuẩn quốc gia (còn Mầm non Hoa Mai và THCS Yên Phụ chưa đạt). Hoàn thành các chỉ tiêu nhiệm vụ năm học 2017-2018; kết quả xét tốt nghiệp THCS: 99,96 % số học sinh được công nhận tốt nghiệp; trong đó có 26,97 % giỏi; 42,27 % khá.

Y tế - Sức khỏe:  

        Công tác y tế và chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân luôn luôn được tỉnh đặc biệt chú trọng. Theo số liệu mới nhất năm 2018 không có dịch bệnh xảy ra; công tác khám chữa bệnh được Bệnh viện đa khoa; trạm y tế các xã, thị trấn duy trì thường xuyên, sẵn sàng trực cấp cứu phục vụ nhân dân trong mọi thời điểm; công tác VSATTP được các cấp, các ngành quan tâm và thực hiện tốt. Chương trình tiêm chủng mở rộng luôn được chú trọng duy trì, đạt hiệu quả cao.

Toàn huyện có 294 cơ sở hành nghề y, dược tư nhân; tăng 52 cơ sở so với năm 2017 (trong đó: 197 có phép, 97 không phép); về sản xuất, kinh doanh thực phẩm có 1.616 cơ sở, trong năm đã kiểm tra 412 cơ sở (đạt yêu cầu là 321, không đạt yêu cầu là 91). Công tác khám chữa bệnh được Bệnh viện đa khoa; trạm y tế các xã, thị trấn duy trì thường xuyên, sẵn sàng trực cấp cứu phục vụ nhân dân trong mọi thời điểm; tại Bệnh viện đa khoa huyện tổ chức khám bệnh cho 183.206 lượt người, điều trị nội trú cho 15.234 lượt người (không có tai biến chuyên môn).

Công tác DS- KHHGĐ được huyện tập trung cao trong chỉ đạo thực hiện và có chuyển biến, kết quả: Tổng số sinh: 2.530 cháu, tỷ suất 16,14 ‰ (giảm 0,41 ‰ so với năm 2017); tỷ số giới tính khi sinh 110 nam/100 nữ. Số người sinh con thứ ba trở lên: 738 (tăng 7,5 % so với năm 2017); trong đó, có 24 trường hợp là cán bộ, đảng viên. Tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên: 1,27 % (giảm 0,02 % so cùng kỳ 2017). Số người áp dụng biện pháp tránh thai: 6.488/7.400 (đạt 87,7 % KH năm).